Thừa cân béo phì là gì? Nguyên nhân, hậu quả, các lưu ý

Cùng với bệnh tăng huyết áp, đái tháo đường, ung thư thì thừa cân béo phì hiện đang được xem là một “đại dịch” mới của thế kỷ 21 bởi sự gia tăng nhanh chóng và những hệ quả nghiêm trọng về sức khỏe và gánh nặng bệnh tật mà nó gây ra.

Thừa cân béo phì là gì?

Theo Tổ chức Y tế thế giới, thừa cân béo phì nghĩa là tình trạng tích lũy mỡ quá mức và không bình thường tại một vùng cơ thể hay toàn thân gây ra nhiều nguy hại tới sức khỏe. Nhìn chung, bệnh thừa cân béo phì thể hiện trọng lượng cơ thể cao hơn trọng lượng chuẩn ở một người khỏe mạnh. Bệnh thừa cân béo phì là bệnh mãn tính do sự dư thừa quá mức lượng mỡ trong cơ thể. Trong cơ thể chúng ta luôn có một lượng mỡ nhất định và lượng mỡ này cần thiết để lưu trữ năng lượng, giữ nhiệt, hấp thụ những chấn động và thể hiện các chức năng khác.

Bệnh thừa cân, béo phì được phân loại bằng chỉ số khối cơ thể BMI. Chỉ số khối cơ thể được tính dựa trên chiều cao và trọng lượng cơ thể. Chỉ số khối cơ thể (BMI) sẽ được tính theo công thức: trọng lượng cơ thể của 1 người (tính bằng kg) chia cho bình phương chiều cao (tính bằng mét). Do chỉ số BMI mô tả mối liên quan giữa trọng lượng cơ thể với chiều cao nên sẽ liên quan chặt chẽ đến tổng số lượng mỡ phân bố trong cơ thể ở người trưởng thành.

Theo phân loại của Tổ chức Y tế thế giới, một người trưởng thành, trừ người có thai nếu có chỉ số BMI trong khoảng 25 – 29,9 được xem là thừa cân, và một người trưởng thành có chỉ số BMI > = 30 được xem là béo phì. Dấu hiệu dễ nhận thấy nhất của thừa cân béo phì gia tăng trọng lượng cơ thể và khối lượng mỡ tích tụ tại một số phần đặc biệt của cơ thể như: bụng, đùi, eo, ngay cả ở ngực nữa.

Chẩn đoán béo phì ở trẻ em

Có nhiều tiêu chuẩn đánh giá béo phì ở trẻ em, phổ biến là phương pháp đánh giá z-score của chỉ số khối cơ thể (BMI) theo tuổi và giới.

BMI = Cân nặng (kg)/ Chiều cao (m) x Chiều cao (m)

Công thức trên được áp dụng khi trẻ từ 2 tuổi trở lên

Trẻ 2-5 tuổi: thừa cân khi z-score BMI ≥ 2SD và béo phì khi ≥ 3SD

Trẻ 5-18t: thừa cân khi z-score BMI ≥ 1SD và béo phì khi ≥ 2SD

Nguyên nhân gây ra thừa cân béo phì

Nguyên nhân gây ra thừa cân béo phì là do:

  • Sự mất cân bằng giữa năng lượng ăn vào và năng lượng tiêu hao. Khẩu phần năng lượng ăn vào vượt quá nhu cầu năng lượng của cơ thể, do đó năng lượng bị dư thừa và được chuyển thành mỡ tích lũy trong các cơ quan, tổ chức
  • Yếu tố di truyền: Có những người mang một số gen trong các nhóm gen như nhóm gen kích thích sự ngon miệng, nhóm gen liên quan đến tiêu hao năng lượng, nhóm gen điều hoà chuyển hoá, nhóm gen liên quan đến sự biệt hoá và phát triển tế bào mỡ. Trong gia đình nếu cha hoặc mẹ hoặc thậm chí là cả hai đều béo phì thì nguy cơ con cái bị thừa cân sẽ rất cao. Những người bị thừa cân béo phìdo yếu tố di truyền có tốc độ trao đổi chất chậm chạp, khó cải thiện.
  • Sụn tuyến giáp: là tình trạng tuyến giáp không sản xuất đủ các hormone cần thiết cho cơ thể. Sự thiếu hụt hormone làm cho quá trình trao đổi chất bị chậm lại, đồng nghĩa với lượng chất béo không được đốt cháy, là nguyên nhân gây tăng cân.
  • Thiếu ngủ: Theo nghiên cứu nếu bạn thường xuyên thiếu ngủ 30 phút mỗi ngày sẽ làm tăng nguy cơ thừa cân, béo phìlên đến 17%. Khi bạn không ngủ đủ, lượng ghrelin sẽ tăng lên khiến bạn thường xuyên cảm thấy đói, thèm đồ ăn có nhiều đường. Lâu dần sẽ dẫn đến sự thèm ăn mất kiểm soát, là nguyên nhân gây thừa cân, béo phì.

Hậu quả của thừa cân béo phì

Tác động tâm lý từ ngoại hình quá khổ

Thừa cân béo phì khiến cơ thể trở nên quá khổ, vì vậy nó gây ra cảm giác tự ti, căng thẳng cho bản thân người thừa cân hay béo phì. Người thừa cân béo phì thường mất tự tin trong giao tiếp, ngại giao tiếp và xuất hiện trước đám đông kèm theo tình trạng căng thẳng, kém linh hoạt trong cuộc sống hàng ngày… dẫn đến làm giảm sút hiệu quả công việc.

Bệnh xương khớp

Người thừa cân béo phì dễ bị thoái hóa khớp, loãng xương, đau nhức triền miên do áp lực từ trọng lượng cơ thể gây lên xương khớp. Khớp gối, cột sống tổn thương sớm nhất. Người thừa cân béo phì dễ mắc bệnh gout.

Bệnh lý tim mạch

Người thừa cân béo phì thường đi kèm với bệnh rối loạn lipid máu hay thường gọi là bệnh mỡ trong máu hoặc cholesterol cao. Khi cholesterol cao gây xơ hóa lòng mạch máu, tăng huyết áp, đột quỵ, nhồi máu cơ tim. Mặt khác, ở người thừa cân béo phì thì tim phải thường xuyên làm việc nhiều hơn để bơm máu đi nuôi cơ thể và lâu dài gây quá tải cho tim do đó ở người béo phì dễ mắc các bệnh về tim mạch. Hiện nay, tỷ lệ tử vong do bệnh tim mạch đang đứng đầu trong các nguyên nhân, trong đó rất nhiều trường hợp là biến chứng của bệnh béo phì.

Bệnh tiểu đường

Bệnh thừa cân béo phì có liên quan mật thiết với bệnh tiểu đường type 2 do gây đề kháng insulin ( hormon điều hòa đường huyết và đưa nhanh glucose vào tế bào để sử dụng) nên là nguyên nhân trực tiếp gây ra đái tháo đường týp 2 ở người béo phì.

Bệnh lý đường tiêu hóa

Nguyên nhân do thừa cân béo phì làm cho lượng mỡ dư bám vào các quai ruột gây táo bón, dễ sinh ra bệnh trĩ. Sự ứ đọng phân và các chất thải độc hại sinh ra trong quá trình chuyển hóa dễ sinh bệnh ung thư đại tràng. Lượng mỡ dư tích tụ ở gan gây bệnh gan nhiễm mỡ nếu không điều trị kịp thời có thể dẫn đến bệnh xơ gan… Rối loạn chuyển hóa mỡ sinh ra sỏi mật.

Suy giảm trí nhớ

Trẻ thừa cân béo phì thường có chỉ số thông minh thấp hơn trẻ có cân nặng bình thường. Người lớn bị béo phì có nguy cơ bị Alzheimer cao hơn so với người bình thường.

Bệnh lý đường hô hấp

Sự tích tụ quá nhiều mỡ ở lồng ngực, cơ hoành và ổ bụng sẽ gây nên hiện tượng khó thở cho bệnh nhân. Trong trường hợp béo phì nặng, tình trạng khó thở có thể gây nên hội chứng Pickwick với những đợt ngưng thở vào ban đêm có thể đưa đến tử vong. Bên cạnh đó, hoạt động của cơ hoành, khí phế quản của người béo phì thường hạn chế do “mỡ bám”, người béo phì thường bị rối loạn nhịp thở, ngáy, ngưng thở khi ngủ, béo phì càng nặng rối loạn nhịp thở càng nhiều.

Rối loạn nội tiết do thừa cân béo phì

Phụ nữ béo phì thường dễ bị rối loạn kinh nguyệt, buồng trứng đa nang, khó có thai, nguy cơ vô sinh cao. Nếu có thai nguy cơ đẻ khó, con dễ bị rối loạn chuyển hóa. Nam giới béo phì thường yếu sinh lý, nguy cơ vô sinh.

Béo phì và nguy cơ ung thư

Người thừa cân béo phì đều mắc chứng cholesterol trong máu cao và insulin trong máu cao, khiến lượng cholesterol trong tế bào miễn dịch tăng cao, giảm khả năng diệt tế bào ung thư của hệ miễn dịch trong cơ thể. Một số nghiên cứu cho thấy sự liên quan giữa béo phì và ung thư như: ung thư thực quản, ung thư trực tràng, ung thư vú, ung thử tử cung, ung thư gan mật và ung thư tuyến tiền liệt.

Để giảm thiểu nguy cơ gặp những biến chứng nặng nề do thừa cân béo phì, các bác sĩ khuyến cáo mỗi người nên kiểm soát cân nặng của mình với một chế độ dinh dưỡng khỏe mạnh, cân bằng, kết hợp với vận động hợp lý để nâng cao sức khỏe cũng như phòng tránh các căn bệnh nguy hiểm do thừa cân béo phì gây nên.

Các yếu tố nguy cơ béo phì

Tiền sử gia đình

  • Bố hoặc mẹ bị béo phì: 80% trẻ béo phì nặng có một hoặc cả hai bố mẹ cùng béo phì.
  • Cân nặng lúc sinh: Trẻ có cân nặng lúc sinh > 4 kg có nguy cơ béo phì cao hơn trẻ có cân nặng lúc sinh bình thường.

Thực phẩm giàu năng lượng

  • Thức ăn nhiều chất béo (mỡ, da, phủ tạng, thức ăn chiên xào, quay, thức ăn nhanh), thức ăn thức uống ngọt (chè, bánh kẹo ngọt, nước có đường, trái cây quá ngọt,…).

Thiểu năng trí tuệ

  • Trẻ bị thiểu năng trí tuệ có bản năng kiểm soát thói quen ăn uống, nhận biết cảm giác no kém nên dễ dẫn đến ăn quá mức và ăn không biết no. Ngoài ra, khả năng giao tiếp xã hội bị hạn chế trẻ ít có cơ hội chơi đùa, vận động nên thường tìm đến ăn để tự tiêu khiển cho bản thân.

Vận động thể lực ít

  • Trẻ có lối sống tĩnh tại như ít vận động thể lực, dành nhiều thời gian xem tivi, chơi game, đọc sách báo,.. thường có thói quen ăn vặt thường tiêu hao nặng lượng ít trong khi thu nạp năng lượng vượt mức nhu cầu, lâu dài dễ dẫn đến tình trạng béo phì.

Các xét nghiệm cận lâm sàng để chẩn đoán yếu tố nguy cơ và nguyên nhân

  • Lipid máu: Có thể tăng Cholesterol, Triglyceride
  • Đường huyết: Có thể rối loạn đường huyết lúc đói, rối loạn chuyển hóa đường hoặc đái tháo đường
  • Siêu âm bụng tổng quát: Có thể gan nhiễm mỡ
  • Định lượng nội tiết tố tuyến thượng thận, tuyến giáp, tuyến yên…
  • Chụp sọ não

Điều trị béo phì

Có rất nhiều cách để điều trị bệnh béo phì. Tuy nhiên phổ biến và hiệu quả nhất đó là thiết lập chế độ ăn uống lành mạnh và tập luyện thể dục thể thao đều đặn hàng ngày. Ngoài ra, phương pháp phẫu thuật và uống thuốc giảm cân cũng được rất nhiều người áp dụng và chữa béo phì thành công.

Điều trị béo phì bằng chế độ ăn kiêng thích hợp

Tùy theo thể trạng và mức độ béo phì của người bệnh, các bác sĩ chuyên khoa sẽ kết hợp cùng với các chuyên gia dinh dưỡng để đưa ra một chế độ ăn uống phù hợp ít chất béo và calo dành cho người muốn giảm cân. Chế độ ăn này cần phải được thực hiện một cách nghiêm túc và tuân thủ theo đúng phác đồ điều trị mà bác sĩ đưa ra.

Người bị béo phì cần phải tối giản lượng chất béo và calo nạp vào trong cơ thể. Chính vì vậy, để đạt được hiệu quả cao trong việc giảm cân và chữa béo phì, bạn cần phải thực sự cố gắng và nỗ lực. Bởi rất nhiều người thường bỏ cuộc giữa chừng và không đủ sự tự tin, kiên trì để thực hiện theo thực đơn ăn kiêng mà các chuyên gia dinh dưỡng đưa ra.

Chế độ ăn của người béo phì cần phải đảm bảo nhiều rau quả và trái cây. Đặc biệt nên dung nạp các loại thực phẩm nguyên hạt sẽ tốt hơn cho quá trình giảm cân.

Ngoài ra, chế độ ăn uống nên tránh các loại thực phẩm có hàm lượng muối cao bởi người bị béo phì sẽ có nguy cơ cao mắc các bệnh tim mạch, tăng huyết áp nên việc hạn chế lượng muối trong bữa ăn là điều cần thiết.

Điều trị béo phì bằng cách tập luyện thể dục thể thao

Sở dĩ béo phì xảy ra là do năng lượng thu nạp vào trong cơ thể nhiều hơn năng lượng giải phóng ra. Do đó, cách tốt nhất để giảm cân, chữa béo phì đó là tập luyện thể dục thể thao. Bởi bên cạnh chế ăn kiêng hợp lý thì việc tập luyện thể dục sẽ giúp giải phóng năng lượng một cách hiệu quả.

Bạn có thể tận dụng bất cứ thời gian nào rảnh rỗi để di chuyển và đi lại để cơ thể được hoạt động và thư giãn. Đôi khi chỉ cần đứng dậy và đi lại một vài vòng xung quanh thay vì cứ ngồi nguyên một chỗ cả buổi.

Ngoài ra, bạn có thể đi bộ, đạp xe hay khiêu vũ, bơi lội để cơ thể có thể vận động và giảm nguy cơ mắc bệnh béo phì. Nếu chưa quen, bạn có thể tập dần dần từ từ ở mức độ từ dễ tới khó và tăng thời gian tập luyện lên để cơ thể có thể dễ dàng thích nghi với việc vận động một cách thường xuyên, đều đặn.

Điều trị béo phì bằng phương pháp phẫu thuật và uống thuốc

Hiện nay có rất nhiều loại thuốc giảm cân được bán trên thị trường. Do đó, sau khi thực hiện chế độ ăn kiêng hợp lý và tập thể dục đều đặn mà không thấy hiệu quả thì người bị béo phì có thể áp dụng cách chữa bệnh đó là sử dụng thuốc uống.

Việc dùng thuốc giảm cân nên có sự cân nhắc và chọn lựa. Bởi một số loại thuốc giảm cân thường sẽ gây ra một số tác dụng phụ cho sức khỏe người bệnh. Do đó, khi mua thuốc, bạn nên tìm hiểu và mua thuốc ở những nơi uy tín, đảm bảo chất lượng.

Hãy nhớ rằng việc giảm cân cần phải có thời gian và từ từ, đều đặn thực hiện mỗi ngày thì mới tốt. Bởi việc giảm cân từ từ sẽ giúp cơ thể dễ dàng kiểm soát cân nặng và tránh trường hợp tăng cân trở lại.

Bên cạnh đó, nếu tình trạng cân nặng vượt mức kiểm soát quá nhiều, bạn có thể nghĩ tới phương án điều trị khác đó là phẫu thuật. Một số biện pháp phẫu thuật hiện nay như thu nhỏ dạ dày, thắt dạ dày…

Cách phòng ngừa và những lưu ý dành cho người bị béo phì

Để có thể hạn chế được tình trạng béo phì tăng cân, chúng ta cần phải xây dựng và thiết lập một số thói quen tốt sau:

  • Thường xuyên theo dõi tình hình sức khỏe, cân nặng và thể trạng của bản thân. Nếu thấy các dấu hiệu tăng cân bất thường nên thông báo với các bác sĩ để tìm nguyên nhân và hướng giải quyết
  • Tăng khả năng vận động trong ngày bằng cách tập luyện thể dục thể thao đều đặn
  • Kiên trì theo đuổi tới cùng mục tiêu giảm cân của mình. Bởi khi thực hiện giảm cân, chế độ ăn uống cần phải được thực hiện nghiêm ngặt, tránh dung nạp quá nhiều thức ăn có chứa tinh bột và chất béo
  • Nên có bản ghi chép để theo dõi tình hình sức khỏe, cân nặng của mình theo từng mốc thời gian cụ thể. Đặc biệt, việc ghi chép thực đơn ăn uống hàng ngày sẽ giúp bạn nắm được cụ thể mình đã nạp bao nhiêu calo vào trong cơ thể và cần giải phóng bao nhiêu calo để giảm nguy cơ béo phì và giữ cân nặng ở mức độ ổn định
  • Trước khi định ăn món gì, bạn hãy nghĩ xem mình có thực sự đói hay không và món ăn đó có tốt cho quá trình giảm cân của mình hay không rồi mới quyết định có nên ăn hay không?
  • Hạn chế ăn các loại thức ăn nhanh, nhiều chất béo
  • Khi ăn nên ăn từ từ và nhai thật kỹ để có cảm giác no lâu hơn
  • Khi đang thực hiện chế độ ăn kiêng, giảm béo, bạn không nên tích trữ đồ ăn vặt, bánh kẹo, nước ngọt, kem tại nhà. Bởi khi nhìn thấy chúng,  cảm giác thèm ăn lại trỗi dậy và nó khiến bạn mất kiểm soát trong việc điều chỉnh chế độ ăn uống của bản thân.

9. Kết

Béo phì là vấn nạn toàn cầu mà hiện nay có rất nhiều quốc gia gặp phải. Số lượng người mắc phải căn bệnh này đã lên tới một con số báo động và ngày càng có chiều hướng gia tăng nhiều hơn. Do đó, căn bệnh này đã trở thành nỗi ám ảnh của rất nhiều người.

Không chỉ trẻ em bị béo phì mà cả người lớn bất kể nam hay nữ đều đang có nguy cơ bị bệnh béo phì rất cao. Bởi cuộc sống hiện đại ngày nay khiến con người rơi vào trạng thái vận động thì ít mà nạp năng lượng lại nhiều.

Chính điều đó gây nên tình trạng tích tụ và dư thừa mỡ ở bên trong cơ thể. Tình trạng này nếu kéo dài lâu sẽ gây nên rất nhiều biến chứng nguy hiểm cho sức khỏe của người bệnh.

Do đó, không ai khác chính bạn là người tự bảo vệ mình trước mối lo ngại mắc bệnh béo phì. Hãy bảo vệ sức khỏe của mình cũng như người thân bằng cách thiết lập cho mình một chế độ dinh dưỡng hợp lý và biết cách cân bằng giữa chế độ ăn uống, nghỉ ngơi với chế độ tập luyện thể dục thể thao đều đặn hàng ngày để cơ thể luôn khỏe mạnh và nhanh nhẹn, hoạt bát.

Liên hệ tư vấn miễn phí: 0943.783.111

Bài viết liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *